Gỡ áp lực thanh khoản, ngân hàng tăng tốc bổ sung nguồn vốn

Trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa tốc độ huy động vốn, hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực lớn về thanh khoản, kéo theo mặt bằng lãi suất khó giảm sâu. Để ổn định nguồn vốn và hỗ trợ nền kinh tế, ngành ngân hàng đang triển khai đồng thời nhiều giải pháp như điều chỉnh quy định an toàn vốn, tăng vốn điều lệ và mở rộng dư địa tín dụng.

Điều chỉnh quy định để giảm áp lực vốn

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đến hết quý I-2026, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 3%, trong khi huy động vốn chỉ tăng khoảng 1%. Trước đó, trong năm 2025, tín dụng tăng khoảng 19%, cao hơn đáng kể so với mức tăng huy động vốn chỉ khoảng 14%-15%.

Khoảng cách lớn giữa tín dụng và huy động khiến nhiều ngân hàng thương mại phải đẩy mạnh huy động tiền gửi dân cư, vay vốn trên thị trường liên ngân hàng, đồng thời phát hành giấy tờ có giá và trái phiếu để bổ sung thanh khoản. Điều này từng khiến lãi suất huy động có thời điểm lên tới 9%-10%/năm, còn lãi suất liên ngân hàng chạm ngưỡng 16%-17%/năm.

Áp lực thanh khoản tiếp tục gia tăng khi từ năm 2026, theo Thông tư 22/2019 của NHNN, tiền gửi của các ngân hàng thương mại tại Kho bạc Nhà nước không còn được tính vào tổng tiền gửi để xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Trong khi đó, tỷ lệ phần vốn này đã giảm dần từ 40% năm 2024 xuống 20% năm 2025 và hiện đã về 0%.

Theo quy định hiện hành, các ngân hàng phải duy trì LDR dưới 85%, tức cứ 100 đồng huy động chỉ được cho vay tối đa 85 đồng. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng đã tiệm cận hoặc vượt ngưỡng này, đặc biệt là nhóm ngân hàng quy mô lớn. Đây cũng là nguyên nhân khiến dù lãi suất huy động đã giảm sau chỉ đạo của NHNN, lãi suất cho vay trung và dài hạn vẫn phổ biến ở mức 9%-11%/năm; một số doanh nghiệp còn phải vay ngắn hạn với lãi suất lên tới 15%/năm.

Để hỗ trợ thanh khoản, NHNN đã ban hành Thông tư 08/2026 sửa đổi Thông tư 22/2019, có hiệu lực từ ngày 16-5-2026. Điểm đáng chú ý là thay tỷ lệ LDR bằng tỷ lệ tín dụng trên tiền gửi (CDR), theo hướng tiệm cận chuẩn Basel III.

Theo quy định mới, phần tín dụng sẽ bao gồm dư nợ cấp tín dụng cho khách hàng, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp và các khoản ủy thác cấp tín dụng; đồng thời loại trừ phần vốn chủ sở hữu dùng để đầu tư tài sản cố định và góp vốn, mua cổ phần. Ở chiều nguồn vốn, tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác sẽ không còn được tính, trong khi tiếp tục cho phép tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước.

Nhiều chuyên gia đánh giá đây là bước điều chỉnh phù hợp trong bối cảnh thanh khoản còn khó khăn. Theo ông Nguyễn Minh Tuấn, việc tiếp tục tính 20% tiền gửi Kho bạc Nhà nước là giải pháp hiệu quả trong ngắn hạn, đặc biệt với nhóm Big 4 gồm Agribank, BIDV, VietcombankVietinBank. Nhóm ngân hàng này có thể được bổ sung thêm khoảng 80.000-100.000 tỷ đồng dư địa tín dụng từ nguồn tiền gửi Kho bạc Nhà nước hiện đang tập trung tại đây.

Làn sóng tăng vốn để củng cố “bộ đệm” tài chính

Song song với việc chờ các chính sách hỗ trợ, nhiều ngân hàng đang đẩy mạnh kế hoạch tăng vốn điều lệ nhằm củng cố năng lực tài chính và đáp ứng yêu cầu nâng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo lộ trình Basel III.

Tại mùa đại hội cổ đông năm 2026, hàng loạt ngân hàng công bố kế hoạch tăng vốn quy mô lớn. Techcombank dự kiến nâng vốn điều lệ hơn 60%, lên khoảng 113.700 tỷ đồng; VPBank hướng tới hơn 106.200 tỷ đồng; còn MB cũng đặt mục tiêu vượt mốc 100.000 tỷ đồng.

Ở nhóm ngân hàng Nhà nước, BIDV dự kiến dùng toàn bộ hơn 13.200 tỷ đồng lợi nhuận giữ lại năm 2025 để chia cổ tức bằng cổ phiếu nhằm tăng vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng. Trong khi đó, Vietcombank lên kế hoạch chào bán riêng lẻ tối đa 6,5% cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược kết hợp phát hành cổ phiếu từ quỹ dự trữ để nâng vốn điều lệ lên sát mốc này.

Ông Nguyễn Thanh Tùng cho biết việc tăng vốn nhằm duy trì tỷ lệ an toàn vốn cao hơn mức tối thiểu 8%, hướng tới chuẩn Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng. Đại diện MB cũng nhấn mạnh tăng vốn là yêu cầu cần thiết để nâng cao năng lực tài chính và đảm bảo các chỉ số an toàn trong bối cảnh tín dụng tăng trưởng mạnh.

Theo ông Nguyễn Thế Minh, việc tăng vốn thành công sẽ giúp các ngân hàng giảm áp lực huy động, mở rộng khả năng cung ứng vốn ổn định cho nền kinh tế, qua đó hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao.

Tuy vậy, các chuyên gia cũng cho rằng việc nới trần LDR cần được thực hiện thận trọng. Dù nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan hay Malaysia có tỷ lệ LDR ở mức 93%-100%, Việt Nam vẫn cần lộ trình phù hợp để đảm bảo chất lượng tài sản và kiểm soát rủi ro hệ thống trước khi tiến gần hơn tới các tiêu chuẩn Basel III.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *